CƠ HỘI ĐẰNG SAU NHIỀU THỬ THÁCH

KTĐT - Mục tiêu mà Chính phủ đề ra đến năm 2010 là Việt Nam sẽ có 500.000 doanh nghiệp đứng vững trên thương trường. Đây là chương trình hành động quốc gia, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 2006-2010. Chương trình này, được hy vọng là tạo đà cho các doanh nghiệp chủ động hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.


Doanh nghiệp chủ động để đứng vững


Những năm qua, tốc độ tăng trưởng và đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước tăng bình quân 15%/năm. Môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, nên cơ hội cho các doanh nghiệp lớn hơn. Tuy nhiên, tham gia vào một sân chơi bình đẳng là thách thức và cũng là cơ hội cho từng doanh nghiệp Việt Nam. Trong tiến trình hội nhập, để cạnh tranh, theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, có 3 chữ T mà cộng đồng doanh nghiệp cần chú ý. Chữ T thứ nhất là: tư duy; bởi vì tư duy và kinh nghiệm là yếu tố quyết định. Chữ T thứ hai là: tốc độ; do tốc độ quan trọng hơn quy mô. Và chữ T thứ ba là: tích tụ; vì có tích tụ mới có tiềm lực tài chính mạnh để thay đổi công nghệ và thâm nhập thị trường.

Trong giai đoạn hiện nay, điều quan trọng đối với doanh nghiệp là sản xuất bằng cách nào chứ không phải sản xuất cái gì. Tuy nhiên, để phát huy được lợi thế, tài chính cũng là vấn đề quan trọng của nhiều doanh nghiệp. Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cho biết, tiềm năng tài chính, công nghệ của các doanh nhân Việt Nam còn chưa mạnh; khả năng quản trị và tính chuyên nghiệp chưa cao. Và vẫn còn khoảng cách khá xa về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt với cộng đồng kinh doanh quốc tế.

Nhìn lại sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, bài học lớn nhất rút ra từ thực tiễn những năm qua cho thấy, chúng ta đã khơi dậy và phát huy được tinh thần yêu nước cũng như ý chí kinh doanh, phát huy sức mạnh vật chất và trí tuệ tinh thần của nhân dân. Trong tương lai, cần huy động được sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp.

Việc mở cửa thị trường rộng hơn, các doanh nghiệp nước ta phải xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, đổi mới công nghệ và xây dựng thương hiệu một cách bài bản. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng một đội ngũ lao động chuyên nghiệp, sáng tạo. Đây cũng là yếu tố quyết định trong cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp.

Việc chủ động hội nhập giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến, nâng cao sức cạnh tranh trong nước cũng như quốc tế. Không những thế, sự chủ động của các doanh nghiệp cũng sẽ giúp Việt Nam nâng cao trình độ, chuẩn mực về hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho thương mại, duy trì được mức bảo vệ hợp lý cho các ngành kinh tế.

Và những cơ hội sau những thách thức

Từ đầu năm 2010, một loạt các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và các nước khác như Nhật, Trung Quốc, và ASEAN có hiệu lực.


Khi đồng hồ điểm giây phút đầu tiên của năm mới 2010, Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN sẽ bước vào khu vực thương mại tự do lớn thứ ba thế giới. Hơn 1.000 mặt hàng nhập khẩu từ Australia, New Zealand, Brunei, Myanmar và Singapore cũng sẽ được ưu đãi thuế nhập khẩu và đây là một phần của Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Australia - New Zealand (gọi tắt là AANZFTA) giai đoạn 2010-2012 mà Việt Nam tham gia vào tháng 2/2009. Có hiệu lực từ ngày đầu tiên của năm 2010, Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN - ATIGA, thay thế cho chương trình ưu đãi thuế quan chung cho khu vực ASEAN (CEPT/AFTA). ATIGA quy định, các nước trong khối ASEAN sẽ xoá bỏ thuế quan đối với phần lớn các mặt hàng (trừ nông sản chưa chế biến) đưa về 0- 5%.

Các chuyên gia kinh tế nói rằng, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng thời cơ này để tăng cường phát triển sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế, việc được hay mất từ các hiệp định thương mại là tuỳ thuộc vào khả năng thâm nhập thị trường của từng nước và từng nhà sản xuất. Hơn nữa, sự gia tăng các hiệp định thương mại tự do đã làm cho các hoạt động xuất/nhập khẩu trở nên phức tạp hơn rất nhiều do phải áp dụng các mức thuế quan cũng như quy tắc xuất xứ khác nhau tuỳ theo đối tượng có thuộc dạng được ưu đãi đặc biệt hay không. Chuyên gia quốc tế hàng đầu về thương mại Jagdish Bhagwati, gọi tình trạng này giống như “tô mì spaghetti” (có hàm ý là rối rắm). Một ví dụ: Để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện được cấp giấy chứng nhận xuất xứ ACFTA (có nguồn gốc từ Việt Nam, kê khai từ nơi nuôi trồng, đến các điều kiện kiểm dịch, sản xuất... theo C/O mẫu E) để đủ tiêu chuẩn miễn giảm thuế. Nhưng các doanh nghiệp và hộ kinh doanh ở nước ta còn rất lúng túng với việc tiếp cận các điều kiện này. Buôn bán với Trung Quốc chiếm khoảng 14,07% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam nhưng Việt Nam chỉ chiếm 0,78% tổng kim ngạch ngoại thương của đất nước đông dân nhất thế giới.

Vì vậy, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụng tốt hơn nữa các cơ hội của các hiệp định thương mại, các quốc gia đều hướng tới những biện pháp tuyên truyền quảng bá về nội dung cam kết, cải cách thủ tục và quy trình cấp Chứng nhận xuất xứ (C/O mẫu E) để giúp doanh nghiệp giảm chi phí... Nếu không có sự chuẩn bị chu đáo hơn, Việt Nam sẽ gặp khó khăn và thách thức lớn.
Nguồn tin: Kinh tế đô thị

Các tin khác :

Trang :  [1]  2  3  4  5  6 >
TƯ VẤN LUẬT TRỤC TUYẾN

Vietlink.Hà Nội

TP. Hồ Chí Minh

 
 
 
 
 
Lượt truy cập 1.604.779
 
Trực tuyến 100